Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây "Lịch sử và truyền thống"

PHẦN I: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

I. THỜI KÌ ĐÀO TẠO 7+3 (1959-1971)
1. Thành lập trường Sư phạm Trung cấp liên tỉnh – tiền thân của trường CĐSP Hà Tây ngày nay
Năm 1959, khu điều dưỡng cho cán bộ Miền nam ở Đông Phù - Đông Mĩ- Thanh Trì ( lúc đó Thanh Trì chưa cắt về Hà Nội) được chọn chuyển thành khu học xá chung cho 3 trường: Trường Sư phạm Trung cấp liên tỉnh (sau này là trường sư phạm chuyên đào tạo giáo viên cấp 2 của Hà Tây); trường sư phạm sơ cấp ( sau này là trường trung cấp sư phạm chuyên đào tạo giáo viên cấp I của Hà Tây đóng ở Xuân Mai- Chương Mĩ) và trường phổ thông lao động của tỉnh Hà Tây với hơn 1000 giáo sinh theo học.
- Trường Sư phạm Trung cấp liên tỉnh – tiền thân của trường CĐSP Hà Tây ngày nay được thành lập ngày 12/11/1959 tại khu học xá Đông Phù – huyện Thanh Trì- tỉnh Hà Đông (nay là xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì – Hà Nội). Khi mới thành lập trường có nhiệm vụ đào tạo giáo viên cấp 2 cho 3 tỉnh là Hà Đông, Sơn Tây và Hà Nội.
- Theo Quyết định số 413 – QĐ/TCCB ngày 12/11/1959 của Ủy ban hành chính tỉnh Hà Đông, bộ máy lãnh đạo đầu tiên của trường Trung cấp Sư phạm liên tỉnh gồm:
+ Đồng chí Phùng Văn Cốc - Phó trưởng Ty giáo dục kiêm Hiệu trưởng.
+ Đồng chí Nguyễn Văn Minh - Phó hiệu trưởng
+ Đồng chí Bùi Sinh Huy - Phó hiệu trưởng
Ban giám hiệu của trường sư phạm sơ cấp lúc đó gồm:
+ Đồng chí Trần Viết Hinh – Hiệu trưởng
+ Đồng chí Phạm Tu – Phó Hiệu trưởng
- Đội ngũ giáo viên do Bộ điều động trực tiếp: một số rút từ trường Sư phạm trung cấp Trung ương, một số được tăng cường từ trường cấp 3 Thường Tín.
- Đối tượng tuyển sinh thuộc 6 tỉnh (Hà Nội- Hà Đông- Sơn Tây và cả Vĩnh phú, Lào Cai, Yên Bái) gồm 2 đối tượng: giáo viên cấp 1 về học 1 năm (7+1), học sinh tốt nghiệp cấp 2 học 2 năm (7+2). Giáo sinh tốt nghiệp do Bộ điều động công tác theo nhu cầu của các tỉnh.
- Kinh phí đào tạo do Trung ương cấp.
2. Thành lập trường Sư phạm trung cấp Hà Đông (1961-1963)
Trường Sư phạm trung cấp liên tỉnh đóng ở Đông Phù được 2 năm, giữa năm 1961, địa điểm mới ở huyện Thường Tín đã cơ bản xây dựng xong. Trường Sư phạm ở Đông phù chính thức chuyển về Thường Tín (địa điểm trường đóng hiện nay).
Lúc này, Hà Đông được thành lập riêng một trường sư phạm: Trường Sư phạm Trung cấp Hà Đông và đặt tại Đông Phù, tiếp thu cơ sở của trường Sư phạm trung cấp liên tỉnh đã chuyển về Thường Tín.
Ban giám hiệu trường Trung cấp Sư phạm Hà Đông lúc đó có:
Đồng chí Trần Viết Hinh – Quyền Hiệu trưởng
Đồng chí Nguyễn Duy Trạc – Phó Hiệu trưởng
Giáo viên được biên chế thành 2 tổ: tổ Xã hội do ông Nguyễn Thế Vinh làm tổ trưởng, tổ Tự nhiên do ông Trịnh Sĩ Thứ làm tổ trưởng. Giáo viên dạy các môn chung như Tâm lí giáo dục, Chính trị cũng được biên chế sinh hoạt với 2 tổ trên.
Nhà trường tuyển sinh khóa đầu được 300 học viên (150 học viên ngành Xã hội, 150 học viên ngành Tự nhiên). Trường Sư phạm trung cấp Hà Đông đào tạo được 1 khóa 7+2, hết năm học 1963 thì chuyển về Thường Tín sáp nhập với trường Sư phạm trung cấp liên tỉnh.
Trường Sư phạm trung cấp liên tỉnh đến địa điểm Thường Tín đào tạo được 1 khóa 7+3 (1961-1963). Sang năm học 1963-1964, Bộ Giáo dục giao quyền quản lý trường Sư phạm trung cấp liên tỉnh cũ cho Hà Đông.
Ban giám hiệu nhà trường lúc đó gồm:
Đồng chí Nguyễn Văn Minh – Hiệu trưởng
Đồng chí Lê Kiều – Hiệu phó
Đồng chí Trần Viết Hinh – hiệu phó
3. Hai trường Sư phạm cấp 2 Hà Đông và Sơn Tây nhập lại thành trường Sư phạm cấp 2 Hà Tây
Năm học 1965 – 1966 là năm thực hiện hợp nhất 2 tỉnh Hà Đông – Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây. Hai trường Sư phạm cấp 2 Hà Đông và Sơn Tây nhập lại thành trường Sư phạm cấp 2 Hà Tây với một đội ngũ gồm 40 giáo viên, 13 cán bộ hành chính quản trị và 20 cấp dưỡng. Trường đào tạo theo hệ 7+3 với số lượng 600 giáo sinh chia làm 2 ban: ban Khoa học Tự nhiên và ban Khoa học Xã hội.
Tháng 9/1965, thực hiện lệnh sơ tán, hơn 600 con người mang theo những phương tiện tối thiểu cần thiết thực hiện một cuộc sơ tán vào 3 xóm của xã Hồng Châu bên đê sông Hồng và 3 thôn của xã Chương Dương cách trường 7 km.
4. Tách trường Sư phạm cấp 2 Hà Tây thành trường Sư phạm cấp 2 Xã hội và trường Sư phạm Cấp 2 Tự nhiên
Bước sang năm học 1966-1967, Mỹ ném bom miền Bắc ngày càng ác liệt dữ dội. Trước tình hình ấy, để đảm bảo tính mạng của hàng trăm con người, song vẫn phát triển quy mô đào tạo. Tháng 9/1966, tỉnh Hà Tây quyết định chia trường Sư phạm cấp 2 Hà Tây thành 2 trường: trường Sư phạm cấp 2 Xã hội và trường Sư phạm Cấp 2 Tự nhiên, mỗi trường ở một địa điểm sơ tán khác nhau.
Trường Sư phạm cấp 2 Tự nhiên ở địa điểm sơ tán cũ, toàn trường có gần 500 giáo sinh, chia thành 10 lớp. Trường Sư phạm cấp 2 Xã hội sơ tán tại xã Hoàng Long - huyện Phú Xuyên. Các lớp học ở rải rác trong 7 thôn của xã Hoàng Long. Ở nơi sơ tán, trường Xã hội tuyển hơn 200 giáo sinh vào năm thứ nhất. Tháng 8/1969, trường Sư phạm cấp 2 Xã hội chuyển từ Phú Xuyên về Thường Tín sơ tán tại các xã Nguyễn Trãi, Tân Minh, Hòa Bình.
Ban Giám hiệu trường cấp 2 Tự nhiên gồm:
Đồng chí Nguyễn Văn Minh – Hiệu trưởng
Đồng chí Bùi Huy Trạc – Hiệu phó
Đồng chí Nguyễn Thị Ba Viên – Hiệu phó
Ban Giám hiệu trường cấp 2 xã hội gồm:
Đồng chí Phan Quang Di – Hiệu trưởng
Đồng chí Tạ Phan – Hiệu phó
Đồng chí Lưu Thúy Hiền – Hiệu phó

5 . Hợp nhất trường Sư phạm cấp 2 Tự nhiên và Sư phạm cấp 2 Xã hội thành trường Sư phạm cấp 2 Hà Tây.
Ngày 29/11/1970, Ủy ban hành chính tỉnh Hà Tây ra quyết định số 320/QĐ-UB hợp nhất trường Sư phạm cấp 2 Tự nhiên và Sư phạm cấp 2 Xã hội thành 1 trường gọi là trường Sư phạm cấp 2 Hà Tây.
Ban giám hiệu của trường hợp nhất gồm 8 người:
Hiệu trưởng: Ông Trần Viết Hinh
Các hiệu phó: Ông Phan Quang Di
Ông Từ Đức Hinh
Ông Nguyễn Duy Trạc
Ông Đỗ Văn Bằng
Ông Trần Đình Thận
Ông Nguyễn Kiều
Bà Nguyễn Thị Ba Viên

II. THỜI KÌ ĐÀO TẠO HỆ 10+3 (1971-1980)
1. Giai đoạn hình thành hệ 10+3
Đầu năm học 1971- 1972, có chủ trương thành lập trường Sư phạm 10+3, từ cơ sở một phân hiệu của trường đặt tại Xuân Mai.
Ban giám hiệu gồm:
Đồng chí Vũ Hữu Côn - hiệu trưởng
Đồng chí Bùi Thành - hiệu phó.
Khi Mỹ ném bom miền Bắc, trường sư phạm 10+3 lại từ Xuân Mai chuyển sơ tán về xã Phú Nam An (Chương Mỹ) và chuyển sang thời kỳ đào tạo 10 +3.
Việc thành lập trường Sư phạm 10+3 Hà Tây đánh dấu bước phát triển của sự nghiệp đào tạo giáo viên cấp 2. Khóa học 10 + 3 đầu tiên diễn ra trong hoàn cảnh toàn trường phải tham gia lao động hàn khẩu đê sông Đáy ở Chương Mỹ 2 tháng tập trung, nên đến tháng 12/1971 mới khai giảng.
Cuối năm 1972 có sự thay đổi trong lãnh đạo trường, đồng chí Vũ Hữu Côn được điều trở lại làm hiệu trưởng trường Bồi dưỡng giáo viên.
Đồng chí Đoàn Hòa – được cử làm hiệu trưởng nhà trường
Đông chí Nguyễn Kiều - phó hiệu trưởng
Chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ kết thúc, trường được lệnh chuyển về Thường Tín.
2. Giai đoạn mở rộng quy mô đào tạo (1973-1977)
Từ năm học 1973-1974, ngoài học sinh tốt nghiệp phổ thông, đối tượng tuyển sinh còn là giáo viên cấp 2 các hệ cũ 7+2, 7+3, 10+1 về học nâng cao trình độ lên hệ 10+3... Chương trình đào tạo theo 4 ban: Văn – Sử, Toán - Lý, Sinh-Hóa, Địa-Sinh; các hoạt động giảng dạy, học tập được đưa vào nề nếp của một trường nội trú tập trung. Tháng 6/1974, kì thi tốt nghiệp đầu tiên của hệ 10+3 tổ chức rất thành công. Sản phẩm đầu tiên được các địa phương tiếp nhận nhanh chóng trở thành những giáo viên cấp 2 có vai trò nòng cốt tại các trường trong tỉnh. Năm học 1974-1975, cùng với nhiệm vụ đào tạo, nhiệm vụ bồi dưỡng giáo viên trở thành nhiệm vụ lớn song song với nhiệm vụ đào tạo của nhà trường.
Năm 1976, Hà Đông và Hòa Bình hợp nhất thành tỉnh Hà Sơn Bình. Tỉnh Hà Sơn Bình lúc này có 2 trường Sư phạm 10+3: Một trường Sư phạm 10+3 đóng ở huyện Thường Tín (gọi là trường Sư phạm 10+3A) và một trường Sư phạm 10+3 đóng ở thị xã Hòa Bình. Trường Sư phạm 10+3A Thường Tín tuyển sinh học sinh và bồi dưỡng giáo viên các huyện miền xuôi. Trường Sư phạm 10+3 Hòa Bình tuyển sinh học sinh và bồi dưỡng giáo viên các huyện miền núi.
Thời kì này đồng chí Đoàn Hòa vẫn làm Hiệu trưởng nhà trường.

3. Giai đoạn chuyển tiếp lên Cao đẳng (1977-1979)
Năm 1977, Bộ giáo dục ban hành chương trình bồi dưỡng giáo viên cấp 2 lên trình độ Cao đẳng để chuẩn hóa đội ngũ. Lúc đó, trường tuyển sinh 3 lớp Văn, Toán, Sinh đầu tiên đánh dấu sự ra đời Hệ chuyên tu Cao đẳng Sư phạm. Từ đây trường tiến hành hai nhiệm vụ song song: Đào tạo 10+3 cho học sinh tốt nghiệp phổ thông và bồi dưỡng tập trung cho giáo viên cấp 2 lên trình độ Cao đẳng. Cuối năm đó trường còn mở thêm hình thức bồi dưỡng tại chức CĐSP tại các huyện Chương Mỹ, Ứng Hòa, Thanh Oai, Phú Xuyên và thị xã Hà Đông.
Một số giáo viên có năng lực cũng được cử đi học cao học chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo của nhà trường. Lãnh đạo nhà trường được tăng cường thêm các đồng chí hiệu phó: Trần Thị Thắm, Vũ Đình Thông, Phạm Đức Phô.
Theo sự phân công của Bộ, cuối năm 1977, trường đã cử giáo viên thuộc 5 bộ môn chính trị, Tâm lí - Giáo dục, Sinh vật, Vật lí chi viện cho các trường sư phạm phía Nam như Tây Ninh, Đà Lạt, Cần Thơ.
Tháng 6/1979, khóa chuyên tu Cao đẳng đầu tiên ra trường. Đầu năm học 1979-1980, nhà trường cũng bắt đầu tuyển học sinh tốt nghiệp phổ thông vào học hệ Cao đẳng với thời gian đào tạo 3 năm và chấm dứt hệ tuyển sinh 10+3.
Năm học này trường có tới 30 lớp với hơn 1.200 giáo sinh đào tạo tập trung chia thành 3 khối: Văn – Sử - Chính trị; Toán – Lý – KTCN, Sinh – Hóa – Địa – KTNN. Đó thật sự là những tiền đề cần thiết, cơ bản cho sự ra đời trường CĐSP sau này.
Cũng từ đây, một nhiệm vụ, một trọng trách mới được giao cho nhà trường: Chính thức đào tạo giáo viên THCS hệ Cao đẳng Sư phạm.

III. THỜI KÌ ĐÀO TẠO HỆ CĐSP (từ 1979)
1. Giai đoạn 1979-1985 - tiếp tục xây dựng và củng cố
Năm 1979, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định thành lập trường CĐSP Hà Sơn Bình trên cơ sở trường Sư phạm 10+3A Hà Sơn Bình.
Ngày 9/01/1981, UBND tỉnh Hà Sơn Bình chính thức nâng trường Sư phạm 10+3A thành trường CĐSP trực thuộc UBND tỉnh, đặt một mốc lịch sử mới trong quá trình phát triển nhà trường.Từ một trường trung cấp chuyên nghiệp trực thuộc Sở giáo dục thành một trường Cao đẳng trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh – ngang tầm với một Sở là một bước chuyển về chất. Tháng 1/1981, Phó tiến sĩ Phạm Ngọc Quỳnh được Bộ bổ nhiệm về làm Hiệu trưởng trường CĐSP Hà Sơn Bình. Tiếp theo việc bổ nhiệm đồng chí Hiệu trưởng là các đồng chí Phạm Văn Uyển, Từ Đức Hinh, Trần Thị Thắm được bổ nhiệm làm phó hiệu trưởng.
Theo quyết định số 38/QĐ-BGDĐT, ngày 15/01/1981 của Bộ Giáo dục về cơ cấu tổ chức của trường CĐSP, trong thời gian tương đối ngắn, nhà trường đã khẩn trương xây dưng xong về cơ bản bộ máy của trường với 3 phòng: phòng Tổ chức – chính trị, phòng Giáo Vụ, phòng Hành chính – Tổng hợp; 3 khoa Toán – Lý – KTCN, khoa Văn – Sử - Chính trị, khoa Sinh – Hóa – Địa – KTNN và 3 đơn vị trực thuộc: Tâm lý – giáo dục, Ngoại ngữ, Thể dục.
Bước vào năm học 1981-1982, trường có 3 khóa CĐSP với 1199 sinh viên hệ đào tạo, chia làm 10 ban; 2 khóa chuyên tu gồm 247 học viên chia làm 4 ban; ngoài ra còn có thêm 8 lớp bồi dưỡng tại chức học tại thị xã Hà Đông, Thanh Oai, Phú Xuyên, Chương Mỹ, Thường Tín với 240 học viên.
Tháng 5/1985, Sở Giáo dục đào tạo quyết định giải thể khoa Toán – Lý – KTCN và khoa Sinh – Hóa – Địa – KTNN thành lập khoa Tự nhiên; giải thể khoa Văn – Sử - Chính trị thành lập khoa Xã hội.
2. Giai đoạn từ 1986 – 2003 - ổn định và phát triển
Cuối năm 1985, đồng chí Phạm Ngọc Quỳnh được Bộ Giáo dục điều về làm hiệu trưởng trường CĐSP Nhạc – Họa Trung ương, đồng chí Phạm Đức Phô được cử giữ chức vụ Hiệu trưởng; các đồng chí trong Ban giám hiệu cũ cũng lần lượt chuyển công tác. Theo Quyết định số 211/QĐ-UB, ngày 10/8/1988 trường CĐSP lại trở về trực thuộc Sở Giáo dục. Ban lãnh đạo trường hầu như được bổ nhiệm mới hoàn toàn, gồ các đồng chí Nguyễn Tử Thư, Nguyễn Huyền, Nguyễn Huy Thực.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, trong vòng 5 năm sau đổi mới, nhà trường đã có những chuyển hướng mạnh mẽ việc đào tạo giáo viên người dân tộc thiểu số đạt trình độ Cao đẳng sư phạm.
- Năm học 1987-1989, tuyển sinh 47 sinh viên vào học hệ dự bị
- Năm học 1989-1990, tuyển 36 sinh viên dân tộc vào học lớp riêng
- Năm học 1990-1991, tuyển 106 sinh viên dân tộc vào học hệ cử tuyển
- Ngay năm học 1991-1992 khi Hà Sơn Bình đã tách thành 2 tỉnh Hà Tây và Hòa Bình, trường vẫn còn nhận đào tạo 50 học sinh dân tộc cho tỉnh Hòa Bình.
Trường CĐSP Hà Sơn Bình là trường đi đầu trong các trường Cao đẳng Sư phạm địa phương của cả nước, thực hiện cả 3 loại hình đào tạo giáo viên người dân tộc thiểu số: dự bị, cử tuyển, đào tạo theo các lớp riêng. Sau 15 khóa tuyển sinh, trường đã đào tạo được 785 giáo viên người dân tộc, 827 giáo viên người Kinh ở miền núi so với tổng số 3559 giáo viên do trường đào tạo (tính đến năm 1994) đạt 45,29%. Đây là tỉ lệ cao nhất trong các trường Cao đẳng Sư phạm (nhận định của Vụ giáo viên - Bộ GĐ&ĐT).
Thực hiện đổi mới phương thức đào tạo, qua 2 năm học thử nghiệm (1993-1994; 1994-1995), đến năm học 1995-1996, tất cả các khóa học của trường đều áp dụng quy chế đào tạo mới. Từ năm học 1996-1997, trường CĐSP Hà Tây thực hiện quy trình đào tạo mới gồm khối kiến thức “ Giáo dục đại cương” và khối kiến thức chuyên ngành, nghiệp vụ.
Quá trình chuyển đổi từ đào tạo theo “ Niên chế” một cách cứng nhắc, cố định sang đào tạo theo cách kết hợp giữa “ Niên chế” và “ Học phần tín chỉ” được thực hiện từng bước thận trọng có sự chuẩn bị khá kỹ về tâm lý, kỹ thuật và cơ sở vật chất đã mang lại nhiều hiệu quả, không gây tâm lý áp đặt, bỡ ngỡ đối với cán bộ giảng dạy và với sinh viên.
Ngày 30/10/1993 Bộ GDĐT ra quyết định số 6743/KHTV đồng ý cho trường mở khoa Ngoại ngữ.
Với phương châm” không chỉ dạy cái mình có mà phải dạy cả cái xã hội đang cần”, ngoài những ngành đào tạo truyền thống, trường đã nhạy bén mở thêm những ngành đào tạo mới đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục phổ thông địa phương; chuyên tiếng Anh năm học 1993-1994, chuyên Tin năm học 1995-1996, chuyên Thể dục, chuyên Mỹ thuật năm học 1999-2000.
Ngày 23/7/1991, UBND tỉnh ra Quyết định số 249/QĐ-UB sáp nhập trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục vào trường CĐSP. Năm 1994, Sở Giáo dục đào tạo quyết định thành lập khoa Bồi dưỡng. Sau một số năm công tác, khoa Bồi dưỡng đã từng bước lớn mạnh vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ ngày càng nặng nề hơn. Nhiệm vụ bồi dưỡng của trưởng được mở rộng theo các nội dung:
- Bồi dưỡng giáo viên cấp 1 các hệ 12+2, trung học hoàn chỉnh lên trình độ CĐSP tiểu học.
- Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lí giáo dục cho hiệu trưởng, hiệu phó các trường phổ thông tiểu học, phổ thông cơ sở, các trường mầm non.
- Liên kết với Đại học sư phạm, Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), với Đại học Ngoại ngữ đào tạo tiếp giáo viên có trình độ Cao đẳng lên trình độ Đại học.
Năm 1995, đồng chí Cao Xuân Ích được cử làm Hiệu trưởng nhà trường, các Phó Hiệu trưởng có các đồng chí Nguyễn Huy Thực,Trần Đăng Long.
Năm 2002, đồng chí Cao Xuân Ích nghỉ theo chế độ, đồng chí Bùi Quốc Toàn được cử giữ chức Hiệu trưởng nhà trường, phó Hiệu trưởng gồm các đồng chí Ngô Văn Vụ, Nguyễn Huy Thực, Trần Đăng Long.
3. Giai đoạn từ 2004- 2019 – mở rộng các ngành đào tạo
Đầu năm 2004, khối Sư phạm (gồm khoa Tiểu học, khoa Mâm non và khoa Giáo dục thể chất – Nhạc- Họa) thuộc trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây được nhập về trường CĐSP Hà Tây. Từ thời điểm này, ngoài đào tạo giáo viên THCS, trường có thêm nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng giáo viên bậc Mâm non, Tiểu học và các bộ môn Năng khiếu như Giáo dục thể chất – Nhạc- Họa hệ trung cấp và cao đẳng cho tỉnh Hà Tây. Thời kì này, nhà trường có 6 khoa đào tạo gồm: khoa Tự nhiên, khoa Xã hội, Khoa Ngoại ngữ, Khoa Tiểu học, Khoa Mâm non, Khoa Giáo dục thể chất- Họa- Nhạc và khoa Bồi dưỡng chuyên làm nhiệm vụ bồi dưỡng giáo viên. Các bộ môn chung gồm Tổ Lí luận Chính trị, Tổ Tâm lí- Giáo dục, Tổ Giáo dục thể chất- Giáo dục quốc phòng. Số lượng cán bộ giáo viên, nhân viên lúc này lên tới 370 người. Quy mô đào tạo có thời điểm lên tới gần 6000 HSSV các hệ đào tạo. Nhiệm vụ mới cũng đặt ra cho nhà trường những cơ hội và thách thức mới Lãnh đạo trường được bổ sung thêm các đ/c Nguyễn Văn Chiêm, Mai Thị Thanh Thủy, Lý Văn Tuấn giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng.
Thời kì này, nhà trường cũng mở rộng loại hình đào tạo theo phương thức liên thông từ trung cấp lên cao đẳng đối với ngành đào tạo giáo viên Mầm non và Tiểu học, liên kết với các trường đại học khác đào tạo liên thông từ cao đẳng lên trình độ đại học. Ngoài ra, trường còn đào tạo giáo viên Mâm non, Tiểu học có trình độ trung cấp và cao đẳng ở các cơ sở liên kết đào tạo ngoài trường. Số lượng HSSV theo học tại trường trong thời kì này rất đông do trường đào tạo giáo viên cả từ Mâm non đến Tiểu học và THCS. Một số ngành đào tạo ngoài sư phạm cũng đã được nhà trường thí điểm thực hiện như Tiếng Anh, Tin học, Việt Nam học, Thư viện – Thông tin,….
Cùng với sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế- xã hội, phương thức đào tạo của nhà trường cũng có nhiều thay đổi: chuyển hướng sang đào tạo sinh viên hệ cao đẳng chính quy theo hệ thống tín chỉ; sinh viên chính quy được học cùng lúc 2 chương trình, được phép học lại, học cải thiện điểm; công bố chuẩn đầu ra của các ngành đào tạo,… Nhà trường đã triển khai mạnh mẽ việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lí. Cùng với việc đầu tư mới cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và nâng cao chất lượng đội ngũ, việc đổi mới phương thức đào tạo đã góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm đào tạo của nhà trường.
Năm 2007, đồng chí Bùi Quốc Toàn – Hiệu trưởng được nghỉ hưu theo chế độ, đồng chí Ngô Văn Vụ được cử giữ chức Hiệu trưởng nhà trường. Phó Hiệu trưởng gồm các đồng chí Nguyễn Văn Chiêm ( 2004-2007), Mai Thị Thanh Thủy (2004 – 2009, Lý Văn Tuấn (2005 -2015), Nguyễn Thị Anh Tâm (2007- 2012) (Trần Duy Hưng (2007 -2019), Nguyễn Thị Thúy (2013 đến nay)
Năm 2008, tỉnh Hà Tây và Hà Nội hợp nhất, trường trực thuộc UBND thành phố Hà Nội nhưng vẫn giữ tên Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây cho đến hiện nay.

Cùng với sự thay đổi cơ chế chính sách chung, đặc biệt là cơ chế, chính sách cho giáo dục, từ sau 2015, nhà trường có những chuẩn bị tích cực để chuyển sang cơ chế tụ chủ và mở rộng các dịch vụ đào tạo theo nhu cầu xã hội. Đồng thời thực hiện tinh gọn bộ máy, tinh giảm biên chế theo chủ trương chung của Đảng và Nhà nước. Đội ngũ cán bộ giảng viên, nhân viên giảm từ 370 người năm 2004 xuống còn 140 người vào năm 2019. Năm 2018, khoa Tự nhiên và khoa Xã hội hợp nhất thành khoa Trung học cơ sở, phòng Khoa học công nghệ hợp nhất với phòng Đào tạo thành phòng Đào tạo và Quản lí khoa học; thành lập mới phòng Thanh tra và Đảm bảo chất lượng Đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ giảng viên nhân viên được nâng lên rõ rệt. Từ năm 2019, do nhu cầu về nguồn nhân lực của giáo dục Thủ đô không còn thiếu nhiều như các giai đoạn trước nên quy mô đào tạo của trường bắt đầu thu hẹp lại, đi vào chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo và đảm bảo chuẩn đầu ra đã công bố.
Đến cuối năm 2017, nhà trường đã hoàn thành xong dự án xây dựng mở rộng trường thêm 10ha, nâng tổng diện tích toàn trường lên gần 14ha với các hạng mục như khu giảng đường, khu thi nghiệm thực hành, nhà thư viện, nhà thi đấu, Hội trường lón, sân vận động,…cùng với cơ sở hạ tầng đồng bộ là các trang thiết bị hiện đại cũng đã được nhà nước đầu tư xây dựng.
Tháng 1/2019, UBND thành phố Hà Nội phê duyệt Đề án thành lập trường Tiểu học và THCS Thăng Long là trường thực hành sư phạm trực thuộc trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây theo quy định của Luật Giáo dục. Tháng 9/2019, trường Tiểu học và THCS Thăng Long chính thức đi vào hoạt động theo Quyết định thành lập của UBND huyện Thường Tín – thành phố Hà Nội.

PHẦN II: BÀI HỌC TRUYỀN THỐNG

1. Truyền thống đoàn kết nhất trí
Sức mạnh đoàn kết là lẽ sống, là thắng lợi. Để đoàn kết phải tạo nên sự nhất trí: nhất trí về nhận thức, nhất trí về hành động. Đoàn kết phải được xây dựng từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới. Nó khắc phục sự phân biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay trong trường, giữa cán bộ và nhân viên, giữa người dạy và người học tạo nên một tập thể hòa hợp. Thực tế trường ta đã chứng minh điều đó, từ trước đến nay lãnh đạo Đảng và chính quyền nhà trường đã đoàn kết chặt chẽ với nhau, lấy đó làm cơ sở tạo nên sự thống nhất chung. Nhờ thế các mặt công tác có khi tưởng chừng như không vượt qua nổi đã được triển khai hết sức khẩn trương và có kết quả. Là một cơ sở đào tạo lớn, tập trung thường xuyên hàng nghìn người là cán bộ, giáo viên, công nhân viên, sinh viên thuộc các dân tộc và thành phần khác nhau, tuổi tác, giới tính khác nhau, tâm tư nguyện vọng, sở thích cá nhân cũng không giống nhau, song lại có chung một mục đích phải thực hiện. Họ cần được tập hợp lại thông qua sự vận dụng và thực hiện các độ chính sách của Đảng, Nhà nước sao cho chính xác, kịp thời và công bằng, tạo dựng không khí cởi mở, dân chủ trong mọi hoạt động đào tạo và phục vụ đào tạo.
Thầy trò đồng tâm nhất trí cùng nhau đẩy mạnh học tập, giảng dạy, xây dựng trường lớp, khu nội trú, thương yêu và tin cậy lẫn nhau. Các giáo viên đi học, con em các dân tộc ít người cùng với số học sinh tốt nghiệp phổ thông cũng nhanh chóng hòa nhập với nhau trong cộng đồng người học, giúp đỡ nhau trong học tập, sinh hoạt. Nhà trường luôn được sự ủng hộ, giúp đỡ của chính quyền và người dân địa phương đùm bọc, che chở. Chung quý lại, khối đoàn kết của trường là sản phẩm của một quá trình dày công xây dựng gìn giữ. Nó giúp nhà trường hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao trong mọi hoàn cảnh. Nó là tài sản chung, vô giá cần được hết sức trân trọng giữ gìn, củng cố và phát triển.
2. Truyền thống cần cù và sáng tạo
Lao động của nhà trường trước hết và chủ yêu vẫn là dạy và học. Đó là hoạt động cơ bản, song phương, thống nhất có quan hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau phát triển. Mục tiêu của dạy và học là dạy tốt, học tốt, nó là nguyện vọng chung của người dạy và người học, cũng là nỗ lực phân đấu của họ trong mọi thời kỳ. Dó đó đã nảy sinh các phong trào dạy tốt, học tốt có tác dụng sâu sắc và quyết định đến chất lượng đào tạo của trường từ trước đến nay.
Giảng dạy tốt, học tập tốt không thể không chuyên cần, sáng tạo. Vì nó là biểu hiện tình cảm, lòng hăng say và khát vọng đạt kết quả cao đối với công việc, có ý nghĩa quyết định đến việc nâng cao chất lượng và hiệu quả. Ở trường Sư phạm Hà Tây, từ trước tới nay không thiếu những gương cả thầy và trò miệt mài với đèn sách, ngày đêm nghiên cứu, mở rộng kiến thức, cải tiến cách dạy, cách học, làm quen với phương pháp tự học tự nghiên cứu, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo dưới sự hướng dẫn của thầy.
Dạy tốt, học tốt, chuyên cần, sáng tạo là truyền thống của nhà trường trong cả một quá trình và đã có được kiểm chứng qua suốt chiều dài 60 năm xây dựng và phát triển. Truyền thống ấy cần được các thế hệ thầy và trò tiếp tục phát huy.
3. Truyền thống vượt khó vươn lên
Một bài học truyền thống nữa xuyên suốt quá trình phát triển của trường là tinh thần khắc phục khó khăn, vượt lên mọi khó khăn để phát triển.
Thời chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo đảm được an toàn tuyệt đối con người và tài sản, tổ chức được trường lớp để dạy học, tổ chức được đời sống và duy trì được những hoạt động... là những nhiệm vụ hết sức khó khăn nhưng đều đã được thày và trò nhà trường vượt qua. Trong thời bình, việc giảng dạy, học tập, sinh hoạt và các hoạt động khác đều có yêu cầu phải đạt chất lượng và hiệu quả ngày càng cao trong khi các phương tiện cần thiết để đạt các yêu cầu đó còn nhiều thiếu thốn. Trước những khó khăn đó, các thế hệ lãnh đạo nhà trường đã rất kiên quyết, vững tâm dựa vào quần chúng, khơi dậy tài lực và trí tuệ của quẩn chúng, không lùi bước trước những thách thức đặt ra trong từng thời điểm. Mỗi bước khắc phục khó khăn lại là một dịp để cán bộ giáo viên, nhân viên của nhà trường được thử thách, rèn luyện và trưởng thảnh.
Thực tế đã chứng minh rằng, trường sư phạm trước kia cũng như ngày nay vừa là nơi đào tạo vừa là nơi rèn luyện. Sự trưởng thành của cả thầy và trò chính là kết quả tất yếu của quá trình học tập và tu dưỡng, phấn đấu và rèn luyện trong đó trường sư phạm đã tạo cho họ những cơ sở ban đầu nhưng rất quan trọng.
Những bài học truyền thống trên ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị, cần được kế tiếp và nâng cao, đồng thời tạo dựng những truyền thống mới mà trước đây chưa có điều kiện và đủ thời gian để kiểm chứng.